Vicente Liem de la Paz / Vinh Sơn Phạm Hiếu Liêm / Lễ kính 7 tháng 11

St. Vicente Liem de la Paz, O.P.
800px-Vincenteliemdelapaz
Born 1732
Tra Lu, Nam Dinh, Tonkin(modern-day northern Vietnam)
Died 7 November 1773
Kien Nam, Tonkin
Venerated in Roman Catholic Church
Beatified 20 May 1906, Vatican City byPope Pius X
Canonized 19 June 1988, Vatican City byPope John Paul II
Feast 24 November
Attributes book, palm, hood, rosary,academic birreta, dalmatic
Patronage Tonkin, Colegio de San Juan de Letran , Students of Letran

Vicente Liem de la Paz (Vietnamese: Vinh Sơn Phạm Hiếu Liêm) (1732 – November 7, 1773) was a Tonkinese (present day northernVietnam) Dominican friar venerated as a saint and martyr by theRoman Catholic Church.

He was born Phạm Hiếu Liêm at Trà Lũ village, in the phủ of Thiên Trường, Nam Định Province, Tonkin in 1732 to Christian parents, Antonio and Monica Daeon de la Cruz[citation needed], members of the Tonkinese nobility. When he fell gravely ill several days after his birth, he was baptized by Fr. Chien de Santo Tomas, taking the name of Vicente Liem de la Paz. Since Trà Lũ was one of those Tonkinese villages where Dominican friars preached the Catholic faith, Liêm grew up to be a Christian. He was later brought by his parents to a missionary center where he learned catechism.

In 1738, King Philip V of Spain opened the Colegio de San Juan de Letran and the University of Santo Tomas (UST) in the Philippines toChinese and Tonkinese students, since China and Tonkin did not have Christian educational institutions. The Dominican fathers decided to let Liêm and four other Tonkinese (Jose de Santo Tomas, Juan de Santo Domingo, Pedro Martir and Pedro de San Jacinto) study in the Philippines.

Vicente took the trivium and the quadrivium in Colegio de San Juan de Letran, now the equivalent of elementary and secondary education. He finished a degree of lector of humanities at Letran. He would pursue his collegiate education at the University of Santo Tomas while residing at Letran. In September 1753, after completing his studies at UST, he entered the Dominican order, along with his four Tonkinese companions. A year later, they made their solemn professions. On January 28, 1755, he received the tonsure and minor orders at the Church of Sta. Ana. In 1758 Liêm was ordained priest under the Dominican order. On September of that year, he passed the examinations to hear confessions. On October 3, he started his journey back to Tonkin. He arrived on January 20, 1759.

He spent time at Tonkin on evangelizing the Tonkinese people. However the Tonkinese authorities did not agree with this. On October 2, 1773, he and his two assistants were arrested at “Co Dou”. He and his assistants were beaten up, after which they traveled on foot to the village of recorded as “Dou Hoi.”[citation needed]There he met another Dominican priest, the Spaniard Jacinto Castañeda.[1] They were presented to the Vice Governor and to the Royal Minister. They were thrown to a cage for a night. The arrival of a High Minister prompted their transfer to Kien Nam,[where?] where the King held his court. While under detention, they still managed to preach Catholicism to the people. Later they were taken to Tan Cau, then to the house of Canh Thuy. Finally they were brought to the King where they were tried. Their trial led for the King to be angry and they were thrown to jail. After several days, the King brought down the guilty verdict with the penalty of beheading.[citation needed] The execution occurred on November 7, 1773. After the execution, the Christians who were present at the site carried away the bodies of de la Paz and Castañeda, where they were laid to rest at the town of Trung Linh in Xuan Truong, Nam Định. Several more Christian missionaries were put to death by the Tonkinese authorities.

The process of beatification of de la Paz and Casteñeda, as well as other Dominican martyrs, was initiated through Vicar Apostolic Bishop Ignacio Delgado, O.P. They were beatified by Pope Pius X with his feast day on November 6. Pope John Paul II announced the canonization of de la Paz on June 19, 1988, with his feast day on November 24.

 

Vinh Sơn Phạm Hiếu Liêm
Vinh Sơn Hòa Bình
Vinh_son_Liem
Sinh 1732
Trà Lũ, Nam Định
Mất 7 tháng 11, 1773
Đồng Mơ, Thăng Long
Tôn kính Giáo hội Công giáo Rôma
Chân phước 20 tháng 5, 1906, tại Rômabởi Giáo hoàng Piô X
Tuyên thánh 19 tháng 6, 1988, tại Rômabởi Giáo hoàng Gioan Phaolô II
Đền chính Nhà thờ Trung Linh
Lễ kính 7 tháng 11
Biểu trưng Cuốn sách, cọ, gỗ, chuỗi hạt
Quan thầy của vùng Bắc Bộ Việt Nam,Colegio de San Juan de Letran
Bị bách hại  bởi Chúa Trịnh Sâm

 

Vinh Sơn Phạm Hiếu Liêm (tên khác: Vinh Sơn Lê Quang Liêm, Vinh Sơn Hòa Bình, Vincente de la Paz hay Vicente Liem de la Paz, 1732 – 1773) là một vị thánh tử đạo Việt Nam.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh năm 1732 tại làng Trà Lũ, phủ Thiên Trường, nay thuộc huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Năm 1744, Liêm vào tu trong Nhà Chung tại Lục Thủy. Sáu năm sau, Liêm được linh mục Espinnoza (tên Việt là Huy) chọn vào số các thanh niên hưởng học bổng của Tây Ban Nha, gởi đi du học Manila (Philippines). Sau khi học xong chương trình trung học của trường Colegio de San Juan de Letran, Liêm theo học giáo dục đại học của trường Universidad de Santo Tomás trong khi vẫn cư trú tại trường cũ. Sau khi tốt nghiệp, tháng 9 năm 1753, cùng với 4 bạn đồng môn cũng là đồng hương Đàng Ngoài của mình, thầy Liêm xin gia nhập vào Dòng Đa Minh. Năm sau, thầy và các bạn tuyên khấn trọng thể, thầy Liêm lấy tên hiệu là Vinh Sơn Hòa Bình (Vincente de la Paz). Năm 1758, thầy Liêm được thụ phong linh mục và hồi hương vào ngày 3 tháng 10 cùng năm[1].

Ngày 20 tháng 1 năm 1759, linh mục Vinh Sơn Phạm Hiếu Liêm đến Trung Linh và được bổ nhiệm làm giáo sư chủng viện cùng tên. Sau một thời gian, ông lần lượt đảm nhiệm các xứ đạo như Quất Lâm, Lục Thủy, Trung Lễ, Trung Linh, Trung Lao và kiêm luôn cả vùng Lai Ổn sau khi linh mục Jacinto Castaneda (tên Việt là Gia) bị bắt. Trong thời gian đó, ông Hoàng Sàu là em của chúa Trịnh Doanh đã được ông rửa tội trước khi mất.

Ngày 1 tháng 10 năm 1773, linh mục Liêm đang chuẩn bị cho giáo dân ở Lương Đống mừng lễ Đức Mẹ Mân Côi thì bị quân lính vây bắt tại nhà một giáo dân tên là Nhiêu Nhuệ. Ông cùng hai cậu giúp lễ bị giải đến quan chánh tổng Xích Bích và bị giam tại đây 12 ngày nhưng không có ai đến chuộc. Sau đó, ông bị giải về Phố Hiến và gặp lại linh mục Gia đang bị giam ở đó. Ngày 20 tháng 10 hai linh mục Liêm và Gia cùng hai cậu giúp lễ bị giải lên kinh đô Thăng Long gặp chúa Trịnh Sâm, riêng hai ông phải mang gông đề 4 chữ Hoa Lang Đạo Sư (tức giáo sĩ Công giáo). Ngày 4 tháng 11, chúa Trịnh tuyên án trảm quyết hai linh mục Liêm và Gia và sẽ hành quyết sau 3 ngày. Ngay ngày hôm đó, chúa Trịnh đại xá cho ông nhưng ông từ chối. Sau khi bị hành hình tại pháp trường Đông Mơ, thi hài họ được an táng tại nhà thờ Trung Linh.

Giáo hoàng Piô X suy tôn chân phước cho linh mục Liêm vào ngày 20 tháng 5 năm 1906. Ngày 19 tháng 6 năm 1988, Giáo hoàng Gioan Phaolô II suy tôn ông lên bậc hiển thánh.

Thánh Phạm Hiếu Liêm là đồng bổn mạng của trường Colegio de San Juan de Letran mà ông từng học, đây là trường đại học cổ nhất Philippines. Tên của ông đã từng được đặt cho một con đường tại phường 12, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, (nay là đường Hà Bá Tường).

Hội đồng Tứ giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Tại kinh thành có một quan lớn là chú của chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm. Mẹ của ông là bà Thượng Trâm, quê xứ Hải Dương, vốn theo đạo Công giáo. Nhiều lần, bà khuyên con theo đạo. Ông này liền nảy ra sáng kiến triệu tập đại diện bốn tôn giáo: Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo và Công giáo để trình bày về đạo của mình để quyết định theo một đạo. Cuộc trao đổi kéo dài ba ngày, mỗi ngày một vấn đề: nguồn gốc con người, mục đích cuộc đời này và đời sau (kiếp này và kiếp sau) của mỗi người. Linh mục Liêm và Gia đại diện cho Công giáo đã khéo léo trình bày đến nỗi quan lớn phải trầm trồ khen ngợi. Nhưng vì ông biết Chúa Trịnh vẫn cấm đạo Công giáo nên quan vẫn còn ngần ngại chưa theo[2].

Ít lâu sau, hai ông có cơ hội được đàm đạo với Thái Tôn Dương Hậu là mẹ của chúa Trịnh. Cuối buổi đàm đạo, bà hỏi: “Những người không tin đạo của các ông sau khi chết sẽ đi đâu?”. Ông trả lời: “Bẩm bà, sa hỏa ngục khốn khổ đời đời ạ”. Câu trả lời đó khiến bà tức giận và ép con mình phải xử tử hai ông.